Skip to main content

Đám cưới vùng cao

Đám cưới vùng cao 


Người Pà Thẻn                                                              

Người Pà Thẻn còn được gọi là Pà Hưng, Mèo Lài, Mèo Hoa, hoặc Mèo Đỏ. Thống kê năm 1999 tổng cộng có 5.500 người, năm 2009 là 6.811 người. Suy đoán, hiện nay khoảng 8.500 người. Họ chủ yếu sống ở Hà Giang (85%) và Tuyên Quang (10%). 

Sáng ngày 23.03.2013, lúc 10:30’, khi đi qua địa phận xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang chúng tôi thấy một nhóm người mặc quần áo màu đỏ rất đẹp đang nghỉ ở góc đường.   



Hỏi chuyện và được biết họ là người Pà Thẻn đang rước dâu về nhà chồng. Thấy đẹp quá, xin phép mẹ chồng chụp vài kiểu ảnh kỷ niệm.  




Người Pà Thẻn ít khi kết hôn với dân tộc khác. Họ có tục ở rể tạm thời (ít nhất 6 năm, tối đa 12 năm). Nếu chàng rể nào muốn về sớm trước thời hạn thì cứ tính mỗi năm phải nộp tiền cho nhà gái. 




Thông thường, những gia đình không có con trai phải cưới rể. Chú rể ở hẳn bên nhà vợ. Người ở rể cả đời phải thờ ma họ vợ. Con cái chia ra làm hai phần: một nửa theo họ bố, nửa còn lại theo họ mẹ. Nhìn ảnh trên thấy bà mẹ chồng có vẻ hài lòng. Cô dâu hình như hơi căng thẳng. Chàng rể đẹp trai, dáng vẻ thư sinh và hơi bất cần một chút. Chắc nhà anh đủ tiền để không cần ở rể. Phụ nữ diện những bộ váy đỏ rất đẹp, và họ đi  các loại dép lê khác nhau, riêng chàng rể có đôi giày thể thao xịn.

Cô dâu lúc đầu e lệ, sau mấy phút chuyện trò đã trở nên bạo dạn, không cần cần che dấu niềm vui nữa. Nhìn nụ cười là đủ biết. 



Trang phục của họ dường như vẫn y nguyên từ mấy trăm năm trước. Chỉ có mấy đôi dép tổ ong và cái mũ bảo hiểm cho ta biết là họ đang sống tại Việt nam ở thế kỷ 21.

Người Dao  

Ngày 12.03.2013, lúc 9:50’ sáng, chúng tôi theo QL4D đi đến địa phận xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu. Ngay bên lề đường trên đỉnh dốc cao vắng vẻ, nghe tiếng nhạc và nhìn thấy phông bạt đám cưới. Khoảng đất  trống, xung quanh không có nhà dân. Dừng xe và tò mò ngó vào bên trong, thấy nhiều người đang chuẩn bị cỗ bàn, đồ trang trí cho buổi tiệc.

Gặp bà mẹ chồng và xin chụp hình kỷ niệm. Giới thiệu là người từ TP HCM xa xôi, nên mọi người vui vẻ và thay nhau chụp hình cùng.


Chụp riêng với mẹ chồng



 với chú rể,



với cô dâu, 



rồi chung với cả 2 vợ chồng. 



Quay lại thì thấy bà mẹ chạy đi đâu mất. Ra ngồi với cánh đàn ông lớn tuổi, nói chuyện về Sài gòn, về chuyến đi xuyên từ Nam ra Bắc và lên tận đây. Cứ theo bản đồ mà đi.   

Chỗ này cách biên giới khoảng 20 km theo đường chim bay, phía trên không còn đường  nữa, toàn núi đá hiểm trở. Chúng tôi trò chuyện về nhiều chủ đề khác nhau bằng tiếng Việt một cách thoải mái, lưu loát. Rất rôm rả và không thấy có bất kỳ cản trở nào về ngôn ngữ. Tìm hiểu thêm, cũng chỉ biết họ là người Dao (trắng) sống ở vùng núi phía Bắc.

Không dám cụng ly với gia đình, chỉ chúc mừng cô dâu, chú rể rồi chia tay. Phía trước cung đường còn dài và nguy hiểm.

Người Thái

Tại Sơn La, người Thái chiếm hơn 1/2 tổng số dân của tỉnh. Ngày 13.03.2013, tức ngày 2.2 Âm Lịch năm Quý Tỵ, chắc là tốt với người Thái nên trên dọc đường từ Điện Biên sang Sơn La chúng tôi thấy có rất nhiều đám cưới. Khi qua địa phận xã Chiềng Pấc, huyện Thuận Châu nhìn thấy một đám cưới tổ chức ngay bên QL 6.   
Nhận ra đám cưới bên nhà gái của người Thái. Cô dâu và em gái trông cứ như hoa hậu, và lại vui vẻ nữa, rất sẵn sàng cho chúng tôi chụp hình.



Đứa cháu gái địu thêm em nhỏ thấy vậy cũng chen chân vào xin đứng chung.


Cảm thấy ái ngại vì sự nhiệt tình của 2 cô gái trẻ và đẹp, tôi xông vào bên trong, có ý tìm chú rể để chúc mừng. Thấy một thanh niên hói đầu, mặc comple, dáng rất đạo mạo đi tới và mời rượu. Trông giống một cán bộ xã nên tôi chỉ chào một cách lấy lệ rồi nháo nhác đi tìm chú rể. Thấy vậy, cậu ta nói ngay: “Anh ơi, em là chú rể mà!”. 

Cả 3 đứng chụp chung. Cô dâu đứng giữa, tay cầm phong bì quàng qua người đàn ông bên trái, tay kia khoác tay anh thanh niên mặc bộ đồ vest. Cả 3 cùng hớn hở. Nếu không vì cái quần jeans cũ thì khó biết ai là chú rể. 



Gỡ tay, chúc mừng đôi vợ chồng trẻ xinh đẹp rồi đi tiếp.


PS. Thông tin chi tiết lấy từ https://vi.wikipedia.org/ và các nguồn mở khác trên Internet.

Comments

Popular posts from this blog

Sắc màu Đồng Văn

Sắc màu Đồng Văn  Là thị trấn cực bắc của Việt nam, cách Trung quốc chỉ vài km. Đến với Đồng Văn, du khách hầu như không thể bỏ qua những địa danh: Mèo Vạc,  Lũng Cú, Mã Pì Lèng, Dinh Vua Mèo, Cao nguyên đá. Khá gần nhau, chỉ cách nhau vài chục km, nhưng đi lại rất khó khăn, nhất là mỗi khi có mây mưa hay sương mù. Đồng Văn có nhiều sắc màu khác nhau: vàng ươm của lúa, đỏ xen trắng của hoa tam giác mạch, xám đen những nếp nhà, trắng đục của sương mù. Những sắc màu đó vừa đối lập, vừa bổ xung cho nhau làm cho Đồng Văn mê hoặc và thu hút du khách thập phương. Hãy chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Đồng Văn qua những bức ảnh đầy màu sắc.

Đảo Bình Ba (Khánh Hoà)

Đảo Bình Ba Rời Cù Lao Câu, tỉnh Bình Thuận, đi tiếp tới đảo Bình Ba. Đảo Bình Ba thuộc xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà. Diện tích đảo  3 km2, dân số dưới 5.000 người. Cách đất liền (cảng Ba Ngòi) khoảng 15 km. Do yếu tố quân sự nên mấy năm trở lại đây người nước ngoài không được phép tham quan đảo như trước nữa. Đây là cung đường chạy dọc theo hết bờ biển tỉnh Ninh Thuận. Trên đường rất nhiều điểm có thể dừng chân ngắm cảnh: Cà Ná, Bàu Trắng, Bàu Sen, Mũi Dinh, Ninh Chữ, Núi Chúa, Amanoi, Vĩnh Hy... Sẽ được ghi chép trong bài “Núi Chúa - Vĩnh Hy, Ninh Thuận”. Gửi xe ô tô qua đêm tại cảng Ba ngòi, Cam Ranh. Lên tàu cao tốc phóng ra đảo. Trước khi rời bến, lính biên phòng trực tiếp lên tàu kiếm tra giấy tờ khá kỹ. Nhìn từ xa thấy đảo khá trù phú. Tàu cao tốc chạy rất nhanh, gió mạnh rớt mất mũ. Do có quen trước nên đã đặt phòng ở khách sạn duy nhất mới xây, không phải ở nhà trọ. Tỉnh Khánh Hoà còn có đảo tên Ba Bình, thuộc huyện đảo Trường sa....

Bánh chưng - bánh tét

Bánh chưng - bánh tét ngày Tết Bánh chưng - bánh tét là món ăn cổ truyền Tết Việt Nam. Thành phần bao gồm gạo nếp, đỗ xanh với nhân thịt. Miền Bắc, bánh chưng thường làm từ thịt lợn gói trong lá dong theo hình vuông. Còn trong Nam, bánh tét thì lấy thịt heo gói trong lá chuối theo hình trụ. Có gia đình tự chuẩn bị (mua gạo nếp, đỗ xanh, thịt) rồi nhờ gói và nấu. Có gia đình mua đồ về, tự gói (để thành phần theo ý  riêng) rồi nhờ nấu hộ. Có gia đình đặt luôn vài cặp từ những nơi nấu bánh. Có gia đình chờ đến tết thì đi mua về. Cuộc sống hiện đại, nhiều gia đình không còn có điều kiện gói và nấu bánh nữa. Nhu cầu ẩm thực thay đổi, nhiều người Việt ngày Tết cũng mua về chỉ trưng bày, không chắc đã ăn. Trải qua hàng ngàn năm, bánh chưng - bánh tét từ món ăn đã chuyển thành biểu tượng của hơn 100 triệu người Việt: 96 triệu người trong nước và 4 triệu người ở nước ngoài. Thật tiếc nếu thời gian trôi tiếp đi, biết đâu sau này người Việt không còn cả nhu cầu trưng bày nữa, ...