Skip to main content

Diều và Biển. P.2

Diều và biển 

Cánh diều - tuổi thơ. Thành ngữ mà mỗi người khi lớn lên đều biết đến.





Ngoài 50 tuổi, khi quay lại thả diều, cũng hy vọng tìm lại tuổi thơ của mình. Đã 3 năm trôi qua, tìm hoài mà vẫn chưa thấy. Nhận ra, không dễ tìm được đâu!

Hồi nhỏ, khoảng đầu những năm 1970. Còn nhớ có làm diều bằng giấy poluye, nan tre, hồ dán nhưng không  bay cao lên được. Giờ đây, diều thiết kế bởi châu Công ty châu Âu, làm từ vải ni lông Nhật, sử dụng chip điện tử Đài Loan, gia công tại Vũ Hán (Trung Quốc). Kích cỡ tuỳ ý mình, dây amiăng chống cháy...Còn đâu bóng dáng tuổi thơ nữa...












Còn nhớ. Hôm buổi trời tối đang lụi cụi 1 mình thu diều trên biển vắng.  Một người thanh niên đi tắm về muộn đến làm quen. Anh ta thắc mắc:
  • Tại sao anh tốn hàng chục triệu để có thú vui dị hợm vậy?
  • Em bao tuổi và làm công việc gì?
  • Dạ em 45, làm đại lý hãng sơn ở Quận 6. 
  • Anh coi đây như tập thể dục. Nếu không thì sẽ ngồi xem TV, lướt web, ăn nhậu...
  • Vậy chỉ cần vài triệu sắm chiếc xe đạp là ngao du mọi nơi và khỏe người!
  • Anh gần 60 rồi. Niềm vui khác tuổi 45 của em. Đạp xe lâu mỏi lưng và đau mông lắm...
Nói cứng vậy nhưng về cũng suy nghĩ: thả diều có lợi ích gì?

Mình có chiều cao khiêm tốn, chưa đến 1m70. Mỗi khi dõi ánh mắt theo cánh diều trên cao vài trăm mét, dường như giúp cho tầm nhìn trở nên cao hơn, xa hơn, rộng hơn, tâm hồn cởi mở hơn.

Còn nhớ những ngày biển đông người. Mấy đứa nhỏ ngước theo cánh diều trên cao. Bà mẹ trẻ dẫn tới:
  • Con chào chú đi, chú cho thả diều.
  • Không! Đứa bé rụt lại. Ông già đó, có tóc bạc rồi mẹ ơi!
Cả bọn gần chục cháu xúm xít tới và tranh nhau chạm vào dây diều. Thấy tuổi thơ mình trong ánh mắt những đứa trẻ...


Rồi 1 lần đi siêu thị ở Sài Gòn. Vô tình gặp lại lũ trẻ đó. Chúng chạy ào tới: Ông thả diều - Ông thả diều! Coi như khuyến mãi, gặp lại tuổi thơ lần nữa.



Là cư dân quen của khu nghỉ dưỡng, thường xuyên cả ngày trên bờ biển thả diều. Nhiều khách du lịch nghĩ mình là nhân viên quảng cáo làm cho công ty, đang chờ nhận tiền bồi dưỡng...

Comments

Popular posts from this blog

Sắc màu Đồng Văn

Sắc màu Đồng Văn  Là thị trấn cực bắc của Việt nam, cách Trung quốc chỉ vài km. Đến với Đồng Văn, du khách hầu như không thể bỏ qua những địa danh: Mèo Vạc,  Lũng Cú, Mã Pì Lèng, Dinh Vua Mèo, Cao nguyên đá. Khá gần nhau, chỉ cách nhau vài chục km, nhưng đi lại rất khó khăn, nhất là mỗi khi có mây mưa hay sương mù. Đồng Văn có nhiều sắc màu khác nhau: vàng ươm của lúa, đỏ xen trắng của hoa tam giác mạch, xám đen những nếp nhà, trắng đục của sương mù. Những sắc màu đó vừa đối lập, vừa bổ xung cho nhau làm cho Đồng Văn mê hoặc và thu hút du khách thập phương. Hãy chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Đồng Văn qua những bức ảnh đầy màu sắc.

Đảo Bình Ba (Khánh Hoà)

Đảo Bình Ba Rời Cù Lao Câu, tỉnh Bình Thuận, đi tiếp tới đảo Bình Ba. Đảo Bình Ba thuộc xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà. Diện tích đảo  3 km2, dân số dưới 5.000 người. Cách đất liền (cảng Ba Ngòi) khoảng 15 km. Do yếu tố quân sự nên mấy năm trở lại đây người nước ngoài không được phép tham quan đảo như trước nữa. Đây là cung đường chạy dọc theo hết bờ biển tỉnh Ninh Thuận. Trên đường rất nhiều điểm có thể dừng chân ngắm cảnh: Cà Ná, Bàu Trắng, Bàu Sen, Mũi Dinh, Ninh Chữ, Núi Chúa, Amanoi, Vĩnh Hy... Sẽ được ghi chép trong bài “Núi Chúa - Vĩnh Hy, Ninh Thuận”. Gửi xe ô tô qua đêm tại cảng Ba ngòi, Cam Ranh. Lên tàu cao tốc phóng ra đảo. Trước khi rời bến, lính biên phòng trực tiếp lên tàu kiếm tra giấy tờ khá kỹ. Nhìn từ xa thấy đảo khá trù phú. Tàu cao tốc chạy rất nhanh, gió mạnh rớt mất mũ. Do có quen trước nên đã đặt phòng ở khách sạn duy nhất mới xây, không phải ở nhà trọ. Tỉnh Khánh Hoà còn có đảo tên Ba Bình, thuộc huyện đảo Trường sa....

Bánh chưng - bánh tét

Bánh chưng - bánh tét ngày Tết Bánh chưng - bánh tét là món ăn cổ truyền Tết Việt Nam. Thành phần bao gồm gạo nếp, đỗ xanh với nhân thịt. Miền Bắc, bánh chưng thường làm từ thịt lợn gói trong lá dong theo hình vuông. Còn trong Nam, bánh tét thì lấy thịt heo gói trong lá chuối theo hình trụ. Có gia đình tự chuẩn bị (mua gạo nếp, đỗ xanh, thịt) rồi nhờ gói và nấu. Có gia đình mua đồ về, tự gói (để thành phần theo ý  riêng) rồi nhờ nấu hộ. Có gia đình đặt luôn vài cặp từ những nơi nấu bánh. Có gia đình chờ đến tết thì đi mua về. Cuộc sống hiện đại, nhiều gia đình không còn có điều kiện gói và nấu bánh nữa. Nhu cầu ẩm thực thay đổi, nhiều người Việt ngày Tết cũng mua về chỉ trưng bày, không chắc đã ăn. Trải qua hàng ngàn năm, bánh chưng - bánh tét từ món ăn đã chuyển thành biểu tượng của hơn 100 triệu người Việt: 96 triệu người trong nước và 4 triệu người ở nước ngoài. Thật tiếc nếu thời gian trôi tiếp đi, biết đâu sau này người Việt không còn cả nhu cầu trưng bày nữa, ...